Suy thận mạn và những điều nên biết - Nhà Thuốc Gia Truyền Đào Đình Nhuận class="post-template-default single single-post postid-306 single-format-standard header-shadow lightbox nav-dropdown-has-arrow">

Suy thận mạn và những điều nên biết

Suy thận mạn là hội chứng suy giảm dần các chức năng của thận như chức năng ngoại tiết, cân bằng nội môi, chức năng nội tiết.

 

Chức năng ngoại tiết của thận bao gồm đào thải các chất cặn bã (như ure, creatinin, acid uric, các sản phẩm trung gian khác) của quá trình dị hóa protein, và đào thải các chất độc từ ngoài vào cơ thể bằng các con đường khác nhau. Chức năng cân bằng nội môi của thận bao gồm cân bằng toan – kiềm, và cân bằng nước – các chất điện giải của máu (natri, kali…). Chức năng nội tiết tạo renin góp phần điều chỉnh huyết áp thông qua hệ renin-angiotensin-aldosteron, sản xuất erythropoietin góp phần cấu tạo hồng cầu; chuyển hóa vitamin D góp phần cân bằng calci-phospho.

 

Việc áp dụng phương pháp điều trị bảo tồn hoặc phương pháp điều trị thay thế sẽ tùy thuộc vào mức độ suy thận.

 

5 giai đoạn của bệnh thận mạn tính

 

Các bệnh thận mạn tính sẽ tiến triển thành suy thận mạn qua nhiều giai đoạn. Các giai đoạn này được đánh giá bằng các xét nghiệm ure máu, creatinin máu và nhất là ước tính mức lọc cầu thận dựa trên nồng độ creatinin huyết nội sinh.

 

Điều trị bảo tồn được chỉ định ở giai đoạn II, III, IV của suy thận mạn.

 

Giai đoạn Biểu hiện MLCT (ml/phút/1,73m2) Chỉ định điều trị
I Tổn thương thận nhưng mức lọc cầu thận (MLCT) bình thường ≥ 90 Chẩn đoán và điều trị các bệnh kết hợp, các yếu tố nguy cơ tim mạch, làm chậm quá trình tiến triển bệnh thận.
II Tổn thương thận làm giảm nhẹ mức lọc cầu thận 60 – 90 Kiểm soát các yếu tố nguy cơ, các bệnh kết hợp làm chậm tiến triển bệnh thận.
III Giảm mức lọc cầu thận mức độ vừa 30 – 59 Chẩn đoán và điều trị các biến chứng do bệnh thận gây ra.
IV Giảm nghiêm trọng mức lọc cầu thận 15 – 29 Chuẩn bị các phương pháp điều trị thay thế thận.
V Suy thận mạn giai đoạn cuối <15 Bắt buộc điều trị thay thế (nếu có hội chứng tăng ure máu).

Mức lọc cầu thận (MLCT) – viết tắt cụm từ chuyên ngành tiếng Anh là GFR – tức là độ lọc cầu  thận, một phép đo chức năng thận.

 

Biện pháp trong điều trị bảo tồn suy thận mạn

 

Trong điều trị bảo tồn suy thận mạn, người ta sử dụng các biện pháp điều trị triệu chứng, tổng hợp, bổ sung lẫn nhau bao gồm:

 

a. Thuốc lợi tiểu: Thuốc lợi tiểu làm tăng sự đào thải muối và nước ở thận, từ đó làm giảm lượng nước trong hệ thống tuần hoàn cũng như nước ở các không gian bào. Trong điều trị suy thận mạn, được dùng nhiều nhất và hiệu quả là nhóm furosemid với các biệt dược lasix, lasilix, bao gồm viên nén 40mg và ống tiêm 20mg/2ml. Nhóm lợi tiểu thẩm thấu, nhóm thiazid và nhóm lợi tiểu ống lượn xa giữ kali ít dùng.

 

 

b. Chế độ ăn uống: Nguyên tắc xây dựng thực đơn cho người suy thận mạn giai đoạn điều trị bảo tồn là lượng đạm rất thấp. Bệnh nhân nạp hạn chế protein từ 0,6g-0,8g cân nặng/ngày và có tổng năng lượng 30-35Kcal/kg cân nặng/ngày. Tuy ít protein nhưng là protein quý, có giá trị sinh học cao, đủ acid amin cần thiết và hấp thu cao. Loại này thường có trong trứng, sữa, cá, thịt nạc, tôm…

 

Những chất người bệnh nên tránh ăn nhiều bao gồm: đạm thực vật (đậu, đỗ, rau dền, rau muống, rau ngót), phosphat (gan, bầu dục, trứng). Hạn chế muối ở mức 2-4g/ngày.

 

Tăng thức ăn nhiều calci như tôm, cá, sụn. Ăn đủ vitamin yếu tố vi lượng, chống thiếu máu. Rau nên dùng loại ít đạm, ít chua như cải các loại, dưa chuột, bầu bí, su hào. Nên dùng loại quả ngọt, ít chua như nhãn, na, đu đủ chín, chuối chín, mít chín, quýt ngọt, mía. Nước uống nên cân đối vừa đủ, ngang lượng nước tiểu bài xuất, ít hơn nếu có phù, nhiều hơn nếu mất nước.

 

Tỷ lệ suy dinh dưỡng trong nhóm bệnh suy thận mạn khá cao. Nguyên nhân có thể do bệnh nhân chán ăn, ăn không đủ, rối loạn chuyển hóa… Tốt nhất, người bệnh nên tham khảo ý kiến tư vấn của nhà dinh dưỡng – tiết chế học để chế độ ăn uống đúng, đủ và phòng suy dinh dưỡng.

 

c. Chế độ sinh hoạt, lao động thích hợp, không quá sức.

 

d. Chống tăng huyết áp: Tùy theo độ tăng huyết áp để lực chọn đơn trị liệu hay đa trị liệu với các thuốc:

 

Ức chế men chuyển: captopril, quinapril, enalapril, perindopril…

Chẹn thụ thể AT1: losartan, valsartan, irbesartan, telhnisartan…

Chẹn calci: nifedipin, amlodipin, felodipin, lacidipin…

Chẹn bêta giao cảm: propranolol, atenolol, metoprolol…

Phòng chống rối loạn cân bằng calci-phospho với:

  • Cung cấp đủ calci và vitamin D: calci-D, calcitriol, calcinol….
  • Hạn chế phospho.
  • Không dùng thuốc có gel aluminium.
  • Định kỳ xét nghiệm calci, phospho huyết, men PTH nhằm phát hiện cường cận giáp thứ phát.

Phòng và chống rối loạn toan kiềm với thuốc natri bicarbonat.

Chống tăng acid uric huyết với allopurinol hoặc colchicin.

Chống thiếu máu với mục tiêu đạt hemoglobin 110g/l bằng các thuốc:

  • Epo alpha (epogen, epokin…),
  • Epo beta (neorecormon…);
  • Darbe poientin (aranesp…);
  • Sắt uống hoặc truyền dịch tĩnh mạch.

Phòng chống rối loạn cân bằng nước và điện giải bằng chế độ ăn uống hợp lý về muối, nước, đặc biệt phòng kali huyết tăng khi dùng thuốc ức chế men chuyển và chẹn thụ thể AT1 trong điều trị tăng huyết áp.

Chống ôxy hóa, lão hóa với omega 3, vitamin E, belaf.

Bệnh nhân và người nhà cần được tư vấn, nắm vững các biện pháp điều trị bảo tồn suy thận mạn. Như vậy sự phối hợp giữa bệnh nhân và bác sĩ điều trị sẽ tốt hơn, nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh, làm chậm lại quá trình dẫn đến suy thận mạn giai đoạn cuối cần điều trị thay thế.

 

ĐĂNG KÍ LIÊN HỆ BÁC SĨ TƯ VẤN MIỄN PHÍ 

[caldera_form id="CF5b6bf3c034e63"]